kodeforest

Nhờ thực hành pháp Niệm Phật -Hộ niệm mà chúng ta tận mắt chứng kiến hàng phàm phu, chỉ một câu A Di Đà Phật niệm cho tới cùng, lâm chung thiết tha cầu sanh Tây Phương Cực Lạc, đã ra đi để lại thân tướng bất khả tư nghì. Chúng con thật không thể nào diễn tả hết nỗi mừng rỡ, xúc động và lòng tri ân  Đức Thế Tôn và Chư Tổ đã ban một pháp ĐẠI CỨU TINH cho chúng sanh Thời Mạt Pháp

Chân thành tri ân chư vị khắp nơi đã đưa lên Youtube và internet và trên các Websites rất nhiều video, MP3, nhạc niệm Phật, các hình ảnh Phật, Bồ Tát, Tây Phương Tiếp Dẫn, các hoa sen.. rất đẹp. Nếu chúng tôi vô tình đã đưa lên trang Website các hình ảnh có bản quyền (Copyright) kính xin chư vị liên hệ chúng tôi và các hình ảnh của chư vị sẽ được xóa ngay tức khắc. Nam mô A Di Đà Phật.

Ngài Tĩnh-Am khi khuyên người niệm Phật, Ngài không ngồi như thế này để khuyên đâu, Ngài không đứng để khuyên đâu… mà chư vị biết là Ngài đã làm như thế nào không?...Ngài quỳ xuống... Ngài chắp tay lại... Ngài khẩn nguyện: Chư vị đồng tu Phật tử ơi!.. Vì việc sanh tử vô cùng lớn lao, mong chư vị hãy Phát Bồ-Đề tâm, trì danh hiệu A-Di-Đà Phật cầu sanh Tịnh-Độ. Quý vị thấy một vị Tổ Sư mà phải quỳ xuống, khẩn khoản cầu xin chư vị Phật tử hãy mau mau niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ. Chư vị có hiểu thấu được tâm can của Tổ Sư không?...(Sơ Suất Của Người Bệnh)

Tổ Thiện-Đạo nói: “Dẫu cho chư Phật trên mười phương, chư đại Bồ-Tát phóng đại quang minh bao trùm vũ trụ, mà bảo ta bỏ câu A-Di-Đà Phật, ta nhất định không bỏ”. 

Giảng Giải Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ Niệm-108/416

Để Hiểu Thấu Hành Đúng Pháp Hộ-Niệm

(Tọa đàm 108)

 

Lão Cư Sĩ Diệu Âm Minh-Trị giảng lần thứ 2

Tại Niệm Phật Đường A-Di-Đà Brisbane Úc Châu (2017-2018)


Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Hôm nay chúng ta đi đến vấn đề thứ 9 cuối trang 44:

Vấn đề lạy phật cầu xin hết chướng ngại.

Mục này có vẻ phổ thông. Thường thường có nhiều người quỳ trước Phật cầu xin hết chướng ngại, tiêu tai giải nạn, tật bệnh tiêu trừ… Ý nghĩa này như thế nào? Làm sao để hết chướng ngại? Nếu không hiểu thấu lý, chúng ta cầu hoài mà chướng ngại vẫn còn trùng trùng, thì cho rằng Phật pháp không linh. Trong bốn điều cần y cứ, Phật dạy chúng ta y cứ theo ý nghĩa, đừng y cứ theo ngôn từ. Như vậy mỗi khi chúng ta sám hối nghiệp chướng thường cầu nguyện cho tật bệnh tiêu trừ, tiêu tai giải nạn cần phải theo đúng chánh pháp. Nếu không được giải thích rõ ràng, thì thường chúng ta hay làm theo Sự Tướng, mà quên Lý Đạo, chỉ làm theo câu văn chứ không làm theo ý văn, thành ra dễ bị lạc. Hôm nay chúng ta hãy bàn vấn đề lạy Phật cầu xin hết chướng ngại như thế nào cho đúng lý đúng pháp đây.

(a): Nhờ lòng thành cầu xin mà Phật sẽ giúp cho chúng ta hết chướng ngại.

Đúng không chư vị? – (Sai). Thật sự sai đấy. Phật không cho chúng ta hết chướng ngại, mà cũng không bắt chúng ta phải chịu chướng nạn. Vậy thì ý nghĩa cầu tiêu tai giải nạn ở chỗ nào? Tất cả đều do nhân quả. Phật dạy, vạn pháp xảy ra không ngoài vấn đề nhân quả. Mình về Tây-Phương Cực-Lạc cũng do nhân quả, mình mất vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc cũng do nhân quả chính mình tạo lấy, chứ không phải Phật muốn bắt ai lên Tây-Phương thì bắt, muốn đuổi ai về thì đuổi đâu. Không phải vậy. Phật mở cánh cửa giải thoát rộng thênh thang cho chúng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc thành đạo mà chúng ta không chịu đi, Phật không thể giăng lưới chụp chúng sanh kéo lên đó được. Tất cả đều do tâm tạo, nghĩa là do lòng chí thành chí kính, tự nguyện theo đúng chánh pháp của chúng sanh vậy.

Vậy thì câu “Nhờ lòng thành cầu xin mà Phật cho chúng ta hết chướng ngại” không đúng pháp lắm. Ví dụ, như lúc bệnh hoạn, thì lạy Phật cầu xin Phật cho mình hết bệnh. Yếu đuối thì lạy Phật cho mình an khang tráng kiện. Lúc sắp chết thì cầu Phật cho mình ra đi an lành, v.v… Thường thường nhiều người cầu xin như vậy. Thật ra thuận lợi, an lành hay không đều do chính mình có biết tu hành đúng theo chánh pháp hay không, chứ không phải cầu xin thì Phật cho mình tất cả những điều đó. Xin chư vị nhớ cho kỹ điểm này.

(b): Tự mình phải buông bỏ phân biệt, chấp trước thì mới hết chướng ngại.

Đúng không chư vị? – (Đúng). “Phân Biệt”, “Chấp Trước”: là những vấn đề lớn. Thông thường chúng ta hay nghe nói đến “Vô-Minh”, “Phân-Biệt”, “Chấp-Trước”, những từ này hàm nghĩa rất sâu xa. Nói từ thấp đến cao thì Chấp-Trước, Phân-Biệt rồi tới Vô-Minh. Chấp-Trước thuộc về Kiến-Tư Phiền-Não, người thật sự buông bỏ Chấp-Trước thì vượt qua tam giới đắc Thánh quả A-la-hán chứ không phải tầm thường. Còn ở đây chúng ta nói: “Buông bỏ chấp trước” cho gọn để chỉ cho ý nghĩa hẹp, gồm những thứ cố chấp thường mắc phải trong cuộc sống, chứ không dám nói đến điều quá cao vì vượt qua giới hạn của người phàm phu mà sợ rằng không ai làm nổi. Còn Phân-Biệt thuộc về Trần-Sa Phiền-Não. Khi buông bỏ được Phân-Biệt thì vượt qua khỏi ngôi vị Thập Tín, chuẩn bị đi vào cảnh giới Hoa-Nghiêm. Đây là công phu của chư vị A-La-hán để tiến lên Pháp-Thân Đại-Sĩ, chứ không thuộc phạm vi phàm phu đâu. Nhưng câu nói “Buông bỏ phân biệt” của chúng ta ở đây cũng theo nghĩa hẹp, xứng hợp với tầm cỡ hàng phàm phu, đó là bỏ đi những điều câu chấp, thị phi, đố kỵ, vướng mắc trong việc đối nhân xử thế như: danh vọng, tiếng tăm, quyền lực, lợi dưỡng, v.v…  Hãy buông bỏ những điều này ra thì tự nhiên mình không còn chướng ngại nữa.

Sợ chết, sợ bệnh thuộc về chấp trước đấy. Thôi thì bỏ đi, đừng sợ chết, đừng sợ bệnh quá nhé. Vấn đề này chúng ta đã nói rất nhiều rồi. Tự tại trước bệnh khổ, không có nghĩa là chúng ta không có bệnh, mà có bệnh nhưng không quá lo lắng. Khi bệnh đến không nên ngày đêm cầu Phật cho mình hết bệnh, vì rõ ràng Phật có phạt bệnh cho ta đâu mà cứ cầu Phật thâu hồi căn bệnh. Trong kinh Bảo-Vương Tam-Muội, Phật dạy rằng, nghĩ tới thân thể này đừng cầu không có bệnh, vì không có bệnh thì tham dục dễ sanh. Người nhiều dục vọng sẽ không tu hành được. Vậy nên hãy lấy bệnh khổ làm thuốc thần.

Chúng sanh mê mờ đã tạo nghiệp quá nhiều rồi, quả báo khổ đau khó bề tránh khỏi. Ta không cầu bệnh đến, nhưng khi bệnh đến ta sẵn sàng chấp nhận hiện tượng do nhân quả của chính mình tạo ra. Thoải mái, an nhiên chấp nhận là sự tự tại trước bệnh khổ. Hãy chuẩn bị một ngày nào đó mình sẽ ra đi trong cơn đau bệnh quằn quại, chứ không dễ gì người phàm phu này mà được ra đi trong an nhàn tự tại đâu nhé. Chuẩn bị tinh thần như vậy, nếu ra đi trong bệnh khổ, mình không còn phải ngỡ ngàng lúng túng, đây chỉ là sự huề vốn thôi chứ không có gì thua lỗ cả. Nếu ra đi mà không có cơn bệnh khổ hành hạ, thì tự nhiên thoải mái càng thêm thoải mái, tầng cấp tự tại của chúng ta sẽ tăng lên. Tất cả đều do tinh thần của chúng ta đã chuẩn bị sẵn để nắm phần chủ động đi vãng sanh rồi vậy.

Suy nghĩ đơn giản như vậy, thì chúng ta từ huề vốn đến lời, không bị thua lỗ!... Còn nghĩ rằng, nhất định mình sẽ ra đi không có bệnh hoạn gì cả, thì khi gặp một cơn bệnh đến, tinh thần sẽ bị hoang mang, sa sút, không thể tự tại được. Từ chỗ phân vân, chao đảo, tinh thần sẽ mất tự chủ, liền bị tuột dốc ngay. Tinh thần tuột dốc, thì nghiệp chướng bừng lên… Thôi!... Mình đành chịu thua cuộc rồi vậy!...

Mong chư vị hãy nuôi dưỡng cái tâm lực vững vàng để đi vãng sanh. Diệu Âm cầu mong sao khi giảng xong tập sách này thì duyên sẽ hết, lúc đó không còn gì để giảng giải thêm nữa. Diệu Âm muốn ổn định để niệm Phật, không muốn giảng thêm chi cho nhiều. Bấy nhiêu lời thành thật này đã quá đầy đủ cho người hữu duyên thực hiện. Hẳn nhiên người có duyên thì nghe thuận tai, còn kẻ vô duyên thì đành tùy duyên vậy thôi.

Cho nên, buông bỏ phân biệt chấp trước thì mới hết chướng ngại. Như vậy, quỳ trước Phật cầu xin hết chướng ngại chính là tự mình hứa với Phật rằng, con sẽ buông bỏ những thứ câu chấp ra. Ganh ghét một người nào: Hãy bỏ đi! Buồn bực một người nào: Hãy bỏ đi! Tới một ngôi chùa thấy người ta làm sai mình tức bực khó chịu: Hãy bỏ đi! Tới một đạo tràng thấy người ta lộn xộn mình liền chê bai họ: Hãy bỏ đi!… Muốn được tự tại, thì chỗ nào thuận duyên mình tới tu hành, chỗ nào không thuận duyên thì mình hãy tự tìm nơi thuận duyên để cộng tu với họ. Đừng nên lưu giữ những sai trái của người khác trong lòng. Buông bỏ những thứ câu chấp này ra, gọi là bỏ Chấp-Trước Phân-Biệt đấy.

Để tránh sự Phân-Biệt Chấp-Trước, Hòa Thượng Tịnh-Không dạy rằng, khi đến tu với một đạo tràng nào, cần tập làm quen với những điều trái tai gai mắt ở đó thì mới tu hành với họ được. Những người tới chỗ này thì chê chỗ nọ, đó là người phân biệt chấp trước nặng nề. Những người tới đạo tràng nào cũng cảm thấy phiền não, đó là người phân biệt chấp trước lớn lao. Những thứ phiền não này thực ra đã chứa đầy trong tâm của mình, đúng ra cần tìm đến một môi trường thích hợp để xổ chúng ra. Ngược lại, chúng ta thường vô ý cứ giữ chặt trong lòng, thành ra phiền não chất chồng thêm phiền não. Thật oan uổng thay!... Thôi!... Từ nay đừng nói lỗi người nữa nhé. Nói nhiều không bằng ít nói, ít nói không bằng không nói lỗi người. Tập được như vậy gọi là đang tiêu trừ chướng ngại vậy.

Khi lâm chung, gặp người niệm chậm mình cảm thấy tức bực lên, đây là do chấp trước mà tự hại lấy mình. Khi bệnh xuống, người hộ niệm tới niệm nhanh một chút mình nổi cơn sân giận, đây là do chấp trước mà rước hại vào thân. Nói vậy, không có nghĩa là khi hộ niệm ai muốn niệm sao thì niệm, vào một đạo tràng ai muốn làm sao thì làm. Xin đừng nghĩ như vậy mà thêm một tầng phân biệt chấp trước tệ hại khác. Giới luật của đạo tràng nhất định mọi người phải tuân giữ. Người ta niệm sao mình phải niệm đúng theo, một cá nhân không thể cố chấp vào ý muốn riêng mà phá giới luật của đạo tràng được.

Phàm phu thường vướng những lỗi nhỏ nhỏ gần gũi như vậy, xin đừng khinh thường những điều này mà sau cùng bị nạn. Rất nhiều người tu hành, cứ mãi lo những điều siêu huyền diệu lý, lại quên đi những điều nhỏ nhỏ bên cạnh mà sau cùng mất phần thành tựu. Bây giờ hãy mạnh dạn nhận mình là phàm phu, hãy sửa ngay những lỗi gần gũi của người phàm phu, để được vãng sanh theo dạng phàm phu nhé. Vãng sanh xong thì được thành tựu tất cả vậy.

(c): Chướng ngại từ trong tâm ứng hiện ra chứ không phải Phật ban phát hay kết tội cho chúng ta.

Đúng không? – (Đúng). Quá đúng!... Câu này quá đúng rồi!... Không ngờ Pháp Hộ-Niệm lại hàm ẩn đến đạo lý cao tột như vậy. “Chướng ngại từ trong tâm ứng hiện ra chứ không phải Phật ban phát hay kết tội cho chúng ta”, đây là sự thật. Vậy thì, với cơn bệnh đó, mà mình được vãng sanh cũng do tự mình phá trừ những chướng ngại trong tâm mà thành tựu. Cũng trong cơn bệnh đó, cũng những người hộ niệm đó, nhưng mình mất vãng sanh, đều do chính mình sơ suất. Nói thẳng thắng rằng, tất cả đều do tại chính mình không chịu xóa bỏ những chướng ngại bên trong mà thôi.

Hôm trước, chúng ta đã từng nói rằng, một người tu hành khá lâu nhưng chỉ cần nổi lên một tâm thượng mạn, thì thường thường sau cùng bị chướng nạn vô cùng nặng nề mà không hay!... Tại sao vậy? Vì khi một người phàm phu mà nghĩ rằng mình đã ngon lành rồi, đã chứng đắc rồi, đã “Nhất Tâm Bất Loạn” rồi… thì thường bị oán thân trái chủ, chư vị ác thần kềm chế liền. Thượng mạn là cái cơ hội dễ dàng nhất cho các vị đó xử lý mình mà mình không hề hay biết. Kềm chế một người có tu hành thường khó khăn hơn người không tu, nên các vị đó rất kiên nhẫn chờ đợi cơ hội, nay cơ hội đã đến, không dễ gì họ bỏ qua đâu. Ta khởi vọng tâm chứng đắc, họ cho chút chút chứng đắc hay hay. Ta muốn được thần thông, họ cho chút chút thần thông lạ lạ. Cầu âm thanh, cho âm thanh. Cầu ánh sáng, cho ánh sáng. Muốn có cảnh giới gì, họ cho cảnh giới đó… Mục đích chính là để làm thõa mãn cái tâm kiêu kỳ, tính thượng mạn sẽ tăng lên, quên mất cảnh giác mà chờ ngày thọ nạn.

Ấn Tổ đã thấy rõ điều nguy hiểm này nên Ngài răn nhắc rất cứng rắn. Trong kinh Lăng-Nghiêm, gần 3.000 năm trước Phật đã nói rất rõ điểm này, nhưng ở thế gian vẫn có nhiều người tự xưng này xưng nọ!... Xin hãy cẩn thận. Sơ ý điều này, theo đúng như kinh Phật dạy, thì không thể nào thành tựu được, sau cùng khó thoát khỏi chướng nạn!...

 Chính vì thế, chướng nạn hầu hết chính từ trong tâm ứng hiện ra. Một người khi nghĩ rằng mình đã chứng đắc rồi, thì không còn nghe lời ai khuyên nhắc cả. Đã nghĩ rằng mình ngon lành rồi, thì không còn ai có thể hướng dẫn được nữa đâu. Chỉ vì sơ ý vướng phải thượng mạn, nên lúc sắp mãn báo thân chướng nạn trùng trùng, người hộ niệm đều thấy rõ ràng vấn đề, họ muốn hóa giải nhưng khó khăn vô cùng, thành ra dù có hộ niệm thì cũng vì tình cảm thương mến nhau mà cố gắng hết sức vậy thôi, chứ ai ai cũng có một tâm trạng ê chề, não nề, đầy thất vọng!...  

Vậy thì, nếu là người bệnh, khi nghe người hộ niệm khai thị hướng dẫn, đừng nên trả lời bằng câu: “Ồ!... Điều này tối biết rồi, đâu cần tới anh nhắc nhở!...”. Xin thưa chư vị, một lời nói này thôi đã vô tình lộ ra cái tâm thượng mạn, khinh thị, bất cẩn. Từ một điểm này thôi, coi chừng đường vãng sanh của mình bị chướng ngại. Đã có tâm bất cẩn, coi chừng công phu tu hành mấy mươi năm rốt cuộc trở thành trống rổng!... Hãy lấy sự thành tựu của bà bán bánh ú mà làm gương để noi theo. Bà luôn luôn cung kính từng người, cả già lẫn trẻ. Bà đâu có vốn chữ nghĩa gì nhiều, nhưng tâm hồn lại hiền hậu khiêm cung, gặp ai cũng khẩn cầu đến hộ niệm cho mình, ấy thế mà bà đã được vãng sanh bất khả tư nghì. Hiện tượng người có tâm Khiêm-Cung-Từ-Ái được vãng sanh nhiều lắm, nhiều lắm chư vị ơi!...

Rõ ràng, con đường vãng sanh đang nằm ngay trước mặt, mà nhiều người không chịu chộp lấy cơ hội này để giải thoát. Bao nhiêu thế hệ qua, tại sao vắng người vãng sanh? Tại sao ít khi thấy được một hiện tượng khả dĩ chứng minh cụ thể cho sự siêu sanh Tịnh-Độ? Thỉnh thoảng cũng có nghe văng vẳng đâu đó nói đến có người vãng sanh, nhưng dò xét kỹ lại, thì hình như vẫn còn quá nhiều nghi vấn!... Tại sao vậy? Có phải chỉ vì Pháp Hộ-Niệm đến với dân tộc ta quá chậm, nên lúc đó không phát hiện ra được những điều sơ suất để kịp thời sửa đổi, không có phương pháp trợ duyên tích cực cho nhau để vãng sanh chăng? Trong khi đó, chư Tổ trong Tịnh-Độ Tông các nơi đã ứng dụng Pháp Hộ-Niệm mà cứu vô số người vãng sanh cả hàng ngàn năm qua rồi mà ta không hay biết. Đến nay, cái duyên quý báu này thực sự đã đến với chúng ta rồi. Nhờ Pháp Hộ-Niệm mà người Việt Nam chúng đã nghe thấy tin tức vãng sanh xảy ra hàng ngày trên khắp ba miền đất nước và nhiều nơi trên thế giới. Những trường hợp ra đi lưu lại tướng lành quá tốt đẹp. Với tướng lành này, giả sử như họ không vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, thì ít ra cũng thoát được 3 đường ác hiểm. Một hiện tượng quý báu mà trước đây dễ gì thấy qua.

 Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, phẩm 6 nguyện 18, Phật dạy rằng, người thành tâm tin tưởng quyết lòng niệm Phật cầu nguyện vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, lúc xả bỏ báo thân niệm được 10 niệm cầu vãng sanh nhất định được vãng sanh. Còn ở những phẩm khác, Phật dạy, người nào ra đi mà được chiếu xúc quang minh của Phật thì thân ý nhu nhuyến, sanh về nước của Ngài, được Phật giáo hóa mà chắc chắn chứng quả Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác. Lấy những lời kinh này mà ấn chứng, thì người niệm Phật ra đi với tướng  như vậy, mình có thể tin tưởng đến 90% họ đã thành tựu sự vãng sanh rồi. Quý hóa thay.

Vậy thì, còn gì nữa mà nghi với ngờ? Cớ chi còn muốn đi lang thang trong sáu đường luân hồi để chịu khổ đau vạn kiếp, tương lai dễ gì gặp được một dịp tương tự để có thể giải thoát đây? Cơ hội này quý hóa lắm, xin đừng bỏ qua. Mong chư vị quyết tâm quyết dạ cùng nhau niệm Phật trở về Tây-Phương Cực-Lạc thành đạo. Gặp nhau trên đó vui hơn.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Copyright 2017 © Designed by Gowebbi. All rights reserved.